Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

  • Giới thiệu

  • Tin tức

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...
Bảng quảng cáo

RỐI LOẠN VỀ CHỨC NĂNG VỚI U QUÁI VÙNG CÙNG CỤT RỐI LOẠN VỀ CHỨC NĂNG VỚI U QUÁI VÙNG CÙNG CỤT NGHIÊN CỨU DỌC VÀ NGHIÊN CỨU CẮT NGANG

Email In

Francesco Cozzi, Amalia Schiaveti, Augusto Zani, Lorna Spagnol, Giorgia Totonelli, Denis A Cozi

Đơn vị Phẫu thuật nhi và Đơn vị Ung thư, Đại học tổng hợp Rome, “La Sapienza”, 00161 Rome, Ý

Journal of Pediatric Surgery, 2008; 43:658-61

TÓM TẮT

Mục đích:

Để tìm hiểu thể hiện lâm sàng, tỷ lệ mắc bệnh và lịch sử tự nhiên di chứng về chức năng ở bệnh nhân có u vùng cùng cụt được phẫu thuật ở thời kỳ trẻ nhỏ.

Phương pháp:

Hồi cứu 18 trẻ phẫu thuật u cùng cụt, thông tin lúc vào viện và khám lâm sàng. Ngoài ra, 13 BN sống sót (tuổi trung bình 25) và 65 ca chứng (tương ứng tuổi và giới) được đánh giá tại một phòng khám đặc biệt.

Kết quả:

      7 BN đã lớn và 25 ở nhóm chứng xuất hiện một hoặc nhiều rối loạn chức năng bao gồm : đau bụng, táo bón, ỉa chảy, són phân, đái dầm, rối loạn tần xuất tiểu tiện, tiểu tiện không tự chủ khi có stress và tiểu tiện cần gắng sức. Ở 7 trên 8 trẻ có triệu chứng, một hoặc nhiều rối loạn chức năng sẽ hết khi lớnlên. So sánh với nhóm chứng, BN lớn có tỷ lệ mắc cao hơn không có ý nghĩa ỏ mỗi rối loạn chức năng.

Kết luận:

       Di chứng chức năng ở bệnh nhân với u vùng cùng cụt có khuynh hướng cải thiện theo thơi gian và những rối loạn này là phổ biến trong quần thể.

       Nghiên cứu đầu tiên di chứng muộn về  chức năng ở bệnh nhân với u vùng cùng cụt xuất hiện cách đây 2 thập kỷ.Các nghiên cứu này cho thấy một tỷ lệ lớn bệnh nhân sau phẫu thuật có rối loạn chức năng của ruột và chức năng bàng quang (1-8).

       Qua thời gian, rối loạn chức năng ruột như: táo bón mạn tính và són phân có xu  hướng cải thiện (3,5,6). Tuy nhiên, táo bón mạn tính và són phân có tần suất cao trên nghiên cứunhững người trẻ tuổi (9). Thực tế, không có BN  lớn nào được theo dõi lâu dài (9).

Bởi vậy, mục đích của nghiên cứu này là để tìm hiểu biểuhiện lâm sàng, tỷ lệ mắc bệnh và lịch sử tự nhiên di chứng về chức năng ở bệnh nhân với u vùng cùng cụt được phâu thuật ở thời kỳ trẻ nhỏ. Chúng tôi hồi cứu bệnh nhân với u vùng cùng cụt và tiến hành nghiên cứu bệnh-chứng về di chứng chức năng.

1. Đối tượng và phương pháp

      18 trẻ được phẫu thuật u vùng cùng cụt bởi phẫu thuật viên kinh nghiệm tại Đơn vị phẫu thuật nhi của Trường Đại Học La Sapienza (Rome , Italy) từ năm 1968 đến năm 1988. Các dữ liệu về nhân chủng học, biến chứng trước phẫu thuật, sau phẫu thuật và những di chứng khi theo dõi được phân tích. 4/5 bệnh nhân với teratoma ác tính chết do bệnh tiến triển, 1 chết do nhiễm khuẩn so sinh.

     Phân loại u theo tiêu chuẩn của Đơn vị phẫu thuật của Hội Nhi khoa Mỹ (10). 10 bệnh nhân type I (u bên ngoài), 2 bênh nhân type II (có phần u trong khung chậu) , 2 bệnh nhân type III (u vào ổ bụng), 4 bệnh nhân type IV (u chỉ ở trong khung chậu, không biều hiện bên ngoài). 11 bệnh nhân được chẩn đoán lúc sinh, 6 bệnh nhân trong vòng năm đầu tiên, và 1 bênh nhân lúc 36 tháng. Tuổi lúc phẫu thuật trung bình 6 tháng (1 ngày đến 40 tháng ). 12 nữ và 6 nam. 4 bệnh nhân tái phát ác tính tại chỗ, 2 bệnh nhân u tái phát lành tính tại chỗ. 4/10 bệnh nhân type I tái phát trong khung chậu.

      Di chứng về chức năng của 13 bệnh nhân sống được theo dõi , tuổi trung binh 25 tuổi (17 đến 38 tuổi). Thông tin bao gồm bệnh sử, khám lâm sàng, khám trực tràng, đánh giá trương lực cơ thắt và đánh giá chức năng cảm giác vận động của chi dưới. 65 ca chứng tương ứng với tuổi và giới , không có tiền sử phẫu thuật khung chậu (5 ca chứng cho một ca bệnh), được lấy ngẫu nhiên và phỏng vấn từng người.

      Táo bón được định nghĩa đại tiện dưới 3 lần mỗi tuần, và/ hoặc phân cứng hoặc phân cục lổn nhổn. Ỉa chảy : đại tiện trên 3 lần mỗi ngày và hoặc phân lỏng hoặc phân nước.Tiểu tiện gắng sức: cần gắng sức mới đi tiểu được.  Tiểu tiệnkhông tự chủ do stress: rỉ nước tiểu khi ho hoặc cười. Đái dầm: ướt quần đêm ngoài 4 tuổi.  Tiều tiện thường xuyên: từ 7 lần trở lên/24h.

      Thông tin được phân tích phần mền SPSS

2. Kết quả

2.1. Biến chứng thời kỳ trẻ nhỏ

     8/13 trẻ sống xuất hiện một hoặc nhiều rối loạn chức năng ruột: đau bụng, táo bón mạn tính, ỉa chảy tái diễn, són phân, đầy hơi. Theo ghi lại của bệnh viện, chức năng của ruột thoả đáng trong vài năm đầu . Trung bình,  rối loạn chức năng ruột bắt đầu ở tuổi đến trường.  3 trẻ có són phân nhẹthường trong nhứng đợt bị ỉa chảy, trong khi 2 trẻ cần có giúp đỡ hoặc thay đổi thường xuyên quần lót. 1 trẻ khó kiểm soát hơi ở độ tuổi đến trường.

     Ở 8 trẻ có rối loạn chức năng ruột, 5 trẻ kèm theo rối loạn tiểu tiện nhẹ: tiểu tiện gắng sức, đi tiểu thường xuyên, tiểu tiện không tự chủ do stress  và tất cả xuất hiện ở tuổi đến trường. 3/5 trẻ có rối loạn tiểu tiện có đái dầm đêm tới 5, 15, 20 tuổi.

2.2. Biến chứng thời kỳ trưởng thành

    7 BN lớn và 25 ca chứng xuất hiện một hoặc nhiều rối loạn chức năng sinh dục-tiểu tiện và hoặc chức năng ruột(54% so với 38%, P không ý nghĩa). 3 bệnh nhân đau bụng kéo dài, 2 trường hợp khỏi. 5 bệnh nhân táo bón kéo dài và khỏi 1 trường hợp. Ỉa chảy tái phát kéo dài ở 1 BN sau đó hết, xuất hiện lần đầu ở 4 BN. Són phân và đầy hơi khỏi theo thời gian, chỉ có 1 BN lớn có són phân nhẹ sau khi thụt hậu môn (bảng 1). 

    4 BN lớn có rối loạn chức năng ruột cũng có một hoặc nhiều rối loạn chức năng tiểu tiện. Tiểu tiện gắng sức hết ở 2 trường hợp, 1 trương hợp có cải thiện. Tiểu tiện không tự chủ do stress hết ở 3 BN và xuất hiện lần đầu ở 1 BN . Tiểu tiệnthường xuyên hết ở 1 trường hợp, xuất hiện lần đầu 2 trường hợp.

    3 BN lớn có rối loạn chức năng ruột cũng có vấn đề về tình dục: 2 trường hợp có rò ít nước tiểu trong khi quan hệ tình dục và 1 trường hợp đau khi quan hệ tình dục. Ở 7 trẻ 1 hoặc nhiều rối loạn chức năng được cải thiện trong thời kỳ trưởng thành. 13 BN lớn, khi so sánh với 65 ca chứng, có tỷ lệmắc mỗi rối loạn chức năng ruột hoặc rối loạn chức năng sinh dục tiết niệu cao hơn, tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (bảng 1).  5 BN và 12 ca chứng cùng có rối loạn chức năng của ruột và tiết niệu sinh dục. 6/7 trẻ lớn và 18/25 nhóm chứng có rối loạn chức năng cho thấy rằng triệu chứng xuất hiện hoặc nặng thêm bởi cảm xúc căng thẳng.

                Tất cả BN lớn có trương lực cơ thắt bình thường khi khám trực tràng bởi ngón tay và có thể tiểu tiện  tự chủ ngắt quãng. Không có BN lớn nào có tê vùng sinh môn, bệnh thần kinh rõ ràng, hoặc biều hiện lâm sàng của bệnh lý thuộc đại tràng hay bàng quang.

3. Thảo luận

3.1. Biến chứng thời kỳ trẻ nhỏ.

      Hơn 1/2 trẻ sống sau khi phẫu thuật u cùng cụt có rối loạn chức năng ruột. Trong số bệnh nhân này có hơn 1/2 có kèm theo rối loạn chức năng tiểu tiện. Trước đây, rối loạn chức năng ruột tương tự là 6% đến 47% trẻ phẫu thuật u cùng cụt (1-8). Nghiên cứu cắt ngang ở nhóm này, thấy rối loạn chức năng tiểu tiện liên quan là 50% đến 100% ở trẻ có rối loạn chức năng ruột (2-8). Thời kỳ trẻ nhỏ, rối loạn chức năng ruột, tiểu tiện, yếu cơ chi dưới (6) được xem xét trước đây như kết quả của tổn thương thần kinh cho ruột, bàng quang và chi dưới (3,5,6,8,9,11). Thực tế, kết quả của chúng tôi về rối loạn chức năng ruột, rối loạn chức năng tiểu tiện cho thấy không có tổn thương liên quan tới thần kinh chủ động (somatic), và sự rối loạn của hệ thần kinh tự động vùng chậu liên quan tới bệnh lý rối loạn chức năng ruột và rối loạn chức năng tiểu tiện.

                Những nghiên cứu trước đây, sự hiện diện của triệu chứng đau bụng không được đề cập đến bởi vi biến chứng sau mổ tập trung đến đại tiện tự chủ, Tuy nhiên, không chỉ táo bón và són phân mà còn đau bụng và ỉa chảy như một rối loạn chức năng ruột tiềm tàng (11,12). Cho nên những nghiên cứu gần đây, chúng tôi cũng đề cập đến triệu chứng đau bụng, ỉa chảy cùng với triệu chứng rối loạn chức năng ruột.

                Khởi phát rối loạn chức năng ruột và tiểu tiện ở tuổi đến trường không được đề cập trước đây, có lẽ đây là cố gắng đầu tiên tiến hành một nghiên cứu dọc theo dõi lịch sử diễn biễn tự nhiên của di chứng chức năng ở bệnh nhân mổ u cùng cụt.Khởi phát triệu chứng muộn phải được xem xét thận trọng bởi vì đánh giá tuổi khởi phát là hồi cứu. Tuy nhiện kết quả của chúng tôi không có rối loạn trươc tuổi đến trường cũng trùng với kết quả một nghiên cứu gần đây di chứng chức năng ở bệnh nhân phẫu thuật u cùng cụt. Thời gian theo dõi trung bình 39 tháng (8 đến 86 tháng), chỉ có 1/19 trẻ có táo bón nhẹ; không có biến chứng về tiết niệu và thần kinh (13). Có thể giải thích là ở tuổi đến trường một số triệu chứng được phát hiện tốt hơn. Mặt khác, những sự kiện gây stress ở tuổi này có thể có vai trò trong cơ chế bệnh sinh liên quan đến rối loạn. Giả thuyết gần đây về cơ chế sinh bệnh và biểu hiện lâm sàng của rối loạn chức năng tiêu hoá cho rằng đó cho là kết quả của sự mất kiểm soát của hệ thống Não- ruột- thần kinh ruột (14).  Cả yếu tố sinh lývà tâm lý có vai trò trong quá trình này và tác động qua lại nhau. Khái niệm này có thể giải thích tại sao mất thần kinh tự động của khung chậu gây nên triệu chứng khi yếu tố bệnh sinhkhác như stress xảy ra bất ngờ. Thực tế, nhiều bệnh nhân phẫu thuật u cùng cụt có rối loạn chức năng  nhưng không có triệu chứng và chỉ được phát hiện khi đo điện cơ đồ của bàng quang và trực tràng (2,5,11).

3.2. Biến chứng thời kỳ trưởng thành.

     Qua nghiên cứu cắt ngang dài hạn, chúng tôi thấy phần lớn những triệu chứng giảm, một số  vẫn còn tồn tại và một số xuất hiện mới. Kết quả chung, một hoặc nhiều triệu chứng cải thiện ở 7/8 bệnh nhân ở bệnh nhân sau cắt u cùng cụt. Kết quả này giống như ở những nghiên cứu trước đây (2,5,6).

     Khi so sánh với nhóm chứng,  BN lớn có tỷ lệ ở mỗi rỗi loạn chức năng ruột, tiểu tiện và rối loạn chức năng sinh dục cao hơn nhưng không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu bệnh-chứng trước đấy về di chứng lâu dài của bênh nhân phẫu thuật cùng cụt, nghiên cứu tập trung vào đánh giá lâm sàng của đại tiện tự chủ và vấn đề xã hội liên quan đến chức năng của hậu môn trực tràng. Bênh nhân, khi so sánh với nhóm chứng, có tần suất xuất hiện đại tiện không tự chủ cao hơn có ý nghĩa , khi đánh giá bằng hệ thống điểm. Theo hệ thống câu hỏi bằng đường bưu điện, cảm giác hạn chế xã hội được thông báo bởi 7/26 bệnh nhận và liên quan đến són phân nhẹ (4 bệnh nhân) hoặc đại tiện vội vàng và thiếu khả năng giữ hơi ngược lại (3 bệnh nhân). Tuy nhiên một vài ca chứng cũng có khó khăntương tự trong việc kiểm soát hơi hoặc phân, và không có mộtca chứng nào thông báo có vấn đề xã hội (9). Nghiên cứu tiếp tục với phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân và nhóm chứng là cẩn thiết để tìm ra liệu bệnh nhân phẫu thuật u cùng cụt có tần suất xuất hiện hạn chế về xã hôi, liên quan đến rối loạn chức nắng ruột, tiểu tiện có ý nghĩa cao hơn.

                Đặc điểm khác của di chứng chức năng muộn ở bệnh nhân phẫu thuật u cùng cụt là tần suất đi kèm của các triệu chứng.  Nghiên cứu của chúng tôi thấy, 5 BN lớn (38%) và 12ca chứng (18%) cùng tồn tại rối loạn chức năng ruột và sinh dục tiết niệu. Kết quả này tương đương với những nghiên cứu trước đây ở BN lớn (5,9). Cơ chế của sự liên quan này gần đây được đề cập đến (16,17). Điều khiển bình thường chức năng sinh dục, chức năng của ruột, chức năng tiêu hoá có vẻ nhưđược trung gian bởi giao điểm của đường nhận cảm và vận động khi đi vào hệ thần kinh trung ương qua cửa của tuỷ sống nhân cột và nhân đơn. Kích thích một cấu trúc khung chậu sẽ ảnh hưởng đến đường thần kinh vào của cấu trúc khác. Tổn thươngcủa những hệ thống đường thần kinh cắt ngang này do bệnh lý hoặc chấn thương


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 23 Tháng 6 2012 11:32 )  
You are here: Home NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Quốc tế RỐI LOẠN VỀ CHỨC NĂNG VỚI U QUÁI VÙNG CÙNG CỤT RỐI LOẠN VỀ CHỨC NĂNG VỚI U QUÁI VÙNG CÙNG CỤT NGHIÊN CỨU DỌC VÀ NGHIÊN CỨU CẮT NGANG

Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...

Tin tức, sự kiện mới

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...

Thông tin mới

Tin xem nhiều