Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

  • Giới thiệu

  • Tin tức

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...
Bảng quảng cáo

Kết quả tạo hình tai do khuyết tai toàn bộ tại bệnh viện Việt Đức

Email In PDF.
Kết quả tạo hình tai do khuyết tai toàn bộ tại bệnh viện Việt Đức.
Trần Thị Thanh Huyền, Bùi Mai Anh,Vũ Trung Trực, Đỗ Ngọc Linh, Đào Văn Giang, Nguyễn Hồng Hà
Khoa tạo hình hàm mặt, bệnh viện Việt Đức
Tóm tắt:
Đặt vấn đề:Khuyết tai là một thương tổn có tỉ lệ hiếm gặp, có thể do nguyên nhân bẩm sinh (1/5000 -7000 trẻ được sinh ra) hoặc do mắc phải. Tạo hình tai có lịch sử lâu dài và rất thay đổi. Gần đây, có rất nhiều kĩ thuật được sử dụng tạo hình tai từ hai giai đoạn (Nagata, Firmin) đến bốn giai đoạn phẫu thuật (Tanzer, Brent). Chúng tôi chủ yếu áp dụng kĩ thuật tạo hình tai của Nagata tạo hình khung sụn vành tai (nếu cần). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gồm 17 bệnh nhân được chẩn đoán khuyết tai bẩm sinh, có 3 bệnh nhân bị khuyết tai mắc phải. Các bệnh nhân được điều trị tại khoa Phẫu thuật tạo hình hàm mặt, bệnh viện Việt Đức từ 1/2008 – 6/2013. Kết quả: Trong số 20 bệnh nhân được tạo hình tai, tuổi trung bình 14,26 (nhỏ nhất 5 tuổi, lớn nhất 30 tuổi). 19/20 bệnh nhân được tạo hình tai bằng khung sụn tự thân theo kĩ thuật Nagata gồm hai giai đoạn. 100% vạt da che phủ trên tai, vạt dái tai (nếu có) và khung sụn sống tốt. 10/19 bệnh nhân bị sẹo quá phát vùng ngực. 3/19 bệnh nhân có mang tóc trên tai tạo hình. 1/20 bệnh nhân trồng lại tai đứt rời thành công.  Kết luận: Phẫu thuật tạo hình tai bằng khung sụn tự thân là một kĩ thuật phức tạp đòi hỏi tính tỉ mỉ, cẩn thận rất cao. Sức sống của khung sụn tại nơi nhận là rất cao nếu chất liệu che phủ đủ.
Results of total auricular reconstruction for defected ear at VietDuc hospital
Huyen Thanh Thi  Tran, Anh Mai Bui,Truc Trung Vu, Linh Ngoc Do, Giang Van Dao, Ha Hong Nguyen
     Department of maxillofacial and plastic surgery, Viet Duc hospital
Summary:
Introduction:Defect ear is a rare rate, possibly due to congenital causes (1/5000 – 7000 births) or acquired. Auricular reconstruction has long history and very varies. Recently, there are many surgrical techniques with two-stage procedures (Nagata, Firmin) or more stages (Tanzer and Brent). In this review the  most commonly used technique for ear reconstruction is Nagata technique. 
Material and method: From 1/2008 to 6/2013, The study included 17 microtia (15 unilateral and 2 bilateral) and 3 defected ear after injury that were treated at department of maxillofacial and plastic surgery in VietDuc hospital.
Results:In 20 patients, mean age 14.26 (min 5 ages and max 30 ages). 19/20 patients were used autogenous costal cartilage by Nagata technique with two stages.  All patients had result good survival skin flap, stable frame work, lolube flap. 10/19 patients with hypertrophy scar at chest wall. 3/19 patients have hair growth on the construct. 1/20 patients was successful microsurgical replantation of the auricle.Conclusion: Total auricular reconstruction using autogenous costal cartilage is complex technique which required meticulous and high careful. Viability of the cartilage framework  depend on skin cover it. 
I. Đặt vấn đề:
Khuyết tai là một thương tổn có tỉ lệ hiếm gặp, có thể do nguyên nhân bẩm sinh (1/5000 -7000 trẻ được sinh ra) hoặc do mắc phải. Đối với nhóm nguyên nhân bẩm sinh có thể thấy khuyết tai đơn thuần (anotia hoặc microtia độ 3) hoặc gặp trong một số bệnh cảnh của các hội chứng như Treacher Collin, Goldenhar…[2], [3],[7]. Đối với các nguyên nhân mắc phải có thể do chấn thương bị mất tai toàn bộ tai (do tai bị dập nát hoặc tai bị đứt ra không thể ghép nối lại được) hoặc do bỏng làm co dúm gây biến dạng sụn vành tai quá nặng [1].
Tạo hình tai có lịch sử lâu dài và rất thay đổi [1],[3],[4]. Từ thế kỉ thứ 8, trong một bài viết “the susrate ”của người Ấn Độ đã ghi lại những mô tả về tạo hình tai bằng cách sử dụng vạt má để tạo hình tổn khuyết dái tai. Một thông báo vào năm 1551 đã lần đầu tiên mô tả trồng lại tai do đứt rời toàn bộ tai. Vào năm 1920, Gillies đã sử dụng sụn tự thân trong tạo hình tai toàn bộ. Đến năm 1959, Tanzer đã đánh dấu sự khởi đầu trong kỉ nguyên tạo hình tai hiện đại với thành công trong việc sử dụng ghép sụn sườn tự thân. Brent đã tiếp tục cải tiến và hoàn thiện qui trình tạo hình tai với chất liệu tự thân và đã thông báo lần đầu tiên thành công việc sử dụng kĩ thuật giãn da trong tạo hình tai [2],[3],[5],[7]. Cho đến nay, có rất nhiều các kĩ thuật được đề xuất trong việc tạo hình tai toàn bộ đối với tổn khuyết tai do các nguyên nhân khác nhau, có thể tạo hình tai toàn bộ bốn thì (Tanzer, Brent) hoặc hai thì (Nagata, Firmin, Park) hoặc một thì, cũng như có thể sử dụng chất liệu tự thân hoặc nhân tạo,…hoặc che phủ khung sụn bằng các chất liệu khác nhau,… tùy thuộc vào kinh nghiệm cũng như thói quen của các phẫu thuật viên. Từ 1966, nghiên cứu thực nghiệm nối tai đã được tiến hành bởi Buncke và Schulz.14 năm sau Pennington và Cs đã thực hiện thành công ca phẫu thuật đầu tiên ghép nối vi phẫu tai người[1]. Theo y văn trên thế giới, số ca nối tai thành công cho đến nay còn rất ít do các mạch máu đến tai rất nhỏ nên trong nhiều trường hợp dù được tiến hành khâu nối vi phẫunhưng không thành công [1].
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào thông báo về kết quả điều trị tạo hình tai trong tổn khuyết tai toàn bộ do nguyên nhân bẩm sinh cũng như mắc phải. Xuất phát từ tình hình thực tế, chúng tôi tiến hành đề tài “kết quả tạo hình tai do khuyết tai toàn bộ tại bệnh viện Việt Đức” với mục tiêu:
- Nhận xét kết quả tạo hình tai do khuyết tai toàn bộ (bẩm sinh và mắc phải)
II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Gồm 17 bệnh nhân được chẩn đoán khuyết tai bẩm sinh và 03 bệnh nhân được chẩn đoán khuyết tai mắc phải (2 bệnh nhân bị tai nạn giao thông gây dập nát tai và 1 bệnh nhân bị cắt đứt toàn bộ tai). Bn được điều trị tại khoa Phẫu thuật tạo hình hàm mặt, bv Việt Đức từ 1/2008 – 6/2013.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, tiến cứu.
Tiến hành nghiên cứu
ð    Đối với bệnh nhân khuyết tai bẩm sinh và tai nạn dập nát tai gây khuyết tai:
Xác định trục của tai nhằm tạo sự đối xứng với tai lành và tương quan với các mốc giải phẫu trên khuôn mặt.
Kĩ thuật phẫu thuật lựa chọn: Tạo hình tai hai thì bằng khung sụn tự thân, áp dụng kĩ thuật tạo hình tai của Nagata (dưới gây mê nội khí quản, tư thế bệnh nhân nằm ngửa)
Thì 1: Tiêm lidocain 1%  pha adrenalin 1/200.000 vào vùng dự kiến đặt khung sụn vành tai và vùng dự kiến lấy sụn sườn 6-7-8-9 (3 hoặc 4 sụn sườn) cùng bên.
                           Bóc tách bộc lộ khoang nhận khung sụn. Lấy khối sụn sườn, tạo hình các gờ luân, gờ đối luân, hố tam giác, hõm thuyền theo kích thước tương ứng với tai bên lànhhoặc tai người trưởng thành (đối với bệnh nhân khuyết cả hai tai). Khung sụn được giữ hình dạng bằng chỉ thép nhỏ và chỉ prolen 4/0. Tận dụng phần da còn lại của di tích tai làm dái tai (nếu có thể). Đặt dẫn lưu sonde hút dạ dày số8, hút liên tục áp lực âm. Khâu đóng vết mổ theo các lớp giải phẫu.
Thì 2: tạo hình dựng taisử dụng mẩu sụn sườn dày 5mm đã chuẩn bị từ thì phẫu thuật thứ nhất để chống tai, che phủ mẩu sụn và làm rãnh sau tai bằngsử dụng vạt cân thái dương nông, ghép da mỏngtrên vạt.Thời gian giữa hai thì phẫu thuật cách nhau khoảng 6 tháng.
Theo dõi, đánh giá sau phẫu thuật:
ð    Đối với bệnh nhân khuyết tai do bị chém, bệnh nhân được tiến hành khâu nối bằng kĩ thuật vi phẫu và được theo dõi đánh giá sau mổ về sức sống và thẩm mỹ.
III. Kết quả và bàn luận
3.1 Tuổi, giới và nguyên nhân bệnh:
Nghiên cứu của chúng tôi có 15 bệnh nhân khuyết một tai toàn bộ và 02 bệnh nhân khuyết hai tai bẩm sinh; 03 bệnh nhân khuyết một tai toàn bộ mắc phải (do tai nạn giao thông). Trong đó:
- Tuổi: Độ tuổi trung bình ở thời điểm phẫu thuật 14,23 tuổi, lớn nhất 30 và nhỏ nhất là 5 tuổi.
Với độ tuổi như vậy, nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với các báo cáo của các tác giả khác. Có sự khác biệt như thế có thể do trình độ dân trí hiểu biết về khả năng chữa bệnh của người dân chúng ta thấp hơn nhiều so với các nước phát triển khác. Các tác giả khác trên thế giới đều khuyến cáo nên tạo hình tai lúc trẻ 5-8 tuổi, lúc đó kích thước tai bằng 90% kích thước tai của người trưởng thành [2], [3], [6], [7].
- Giới: Tỉ lệ nam/nữ = 12/8 (chi tiết thì có 9/8 các trường hợp khuyết tai bẩm sinh)
Theo Tuomas Klockars thì microtia xảy ra phổ biến ở nam giới, còn trong nghiên cứu của chúng tôi thì tỉ lệ nam/ nữ đang ở mức tương đương [4]. Chưa có sự khác biệt rõ rệt vì có thể số liệu thống kê của chúng tôi còn ít, chưa đủ lớn để nhận định về mặt dịch tễ học.
- Nguyên nhân:
Bẩm sinh/ mắc phải = 17/3
Có 3 bệnh nhân bị khuyết toàn bộ một tai do tai nạn giao thông, cả hai bệnh nhân này đều là nam giới. Theo thống kê về tai nạn giao thông hàng năm tại Việt Nam thì tỉ lệ bệnh nhân nam cao hơn nữ. Trong số 3 bệnh nhân này có 1 bệnh nhân bị tai đứt rời ra qua vết chém sắc gọn được mang đến bệnh viện, nếu như trước đây khi tiến hành vi phẫu khâu nối tai còn nhiều khó khăn về kĩ thuật thì bệnh nhân này cũng sẽ phải quay lại tạo hình vành tai bằng sụn tự thân, nhưng chúng tôi đã tiến hành kĩ thuật tạo hình vi phẫu trồng lại tai đứt rời.
3.2 Vị trí tổn khuyết tai:
Trong nhóm nghiên cứu, 20/20 trường hợp khuyết tai P, trong số có 2/20 trường hợp kèm theo khuyết cả tai T. Trong một báo cáo của Tuomas Klockars và cộng sự, microtia thường ở bên Phải chiếm 57-65% [4].
3.3 Về kĩ thuật tạo hình tai:
* Số lượng sụn và vị trí lấy sụn để tạo khung:
- Theo khuyến cáo của Nagata, chúng tôi thường lấy sụn sườn 6,7,8,9 cùng bên. Trong khi với Brent, Tanzer thì thường lấy sụn sườn 6,7,8 của bên đối diện [2], [7]. Chúng tôi nhận thấy, muốn có khung sụn nổi rõ hơn các gờ và tăng hình dạng không gian 3 chiều thì cần lấy một số lượng sụn tương đối để giúp cho việc định hình khung sụn rõ rệt hơn. Đặc biệt lưu ý với các bệnh nhân dưới 10 tuổi, sụn sườn có kích thước nhỏ về chiều dày và chiều dài nên trong quá trình tạo khung sụn phải hết sức thận trọng tận dụng tối đa sụn để được khung sụn có kích thước tương đối phù hợp.
* Lấy toàn bộ chiều dày sụn hay bán phần:
Có 14/19 bệnh nhân là trẻ em với độ tuổi từ 5 – 15 tuổi, chúng tôi lấy sụn sườn để lại màng sụn (lấy bán phần chiều dày của các sụn sườn) và tạo các gờ của khung sụn vành tai bằng việc ghép chồng lên phía trên đế khung sụn chính các mảnh sụn ghép nhằm tạo sự nổi gờ luân, gờ đối luân, …, và làm sâu các rãnh, các hõm bằng việc đục sâu nền sụn xuống.
Còn 5/19 bệnh nhân có độ tuổi từ 15 – 26, chúng tôi đã sử dụng toàn bộ chiều dày của sụn sườn, sau khi tạo hình dạng chính cho vành tai, trên nền đế của khung sụn vành tai, chúng tôi tạo các rãnh sâu xuống nhằm mục đích nổi rõ các gờ luân, gờ đối luân, các hõm xoăn, hố scapha,…
Nagata thường để lại toàn bộ màng sụn, trừ chỗ nối của sụn sườn 6,7 (phần sụn tạo nền khung sụn tai) để còn có cơ hội sụn tiếp tục phát triển tránh gây biến dạng thứ phát lồng ngực về sau [2]. Theo quan điểm của mình, chúng tôi cho rằng, ở độ tuổi trẻ em, nguy cơ biến dạng lồng ngực cao hơn, nên chúng tôi cố gắng để lại màng sụn, còn tuổi trưởng thành, lồng ngực đã phát triển đầy đủ, nên chúng tôi đã lấy toàn bộ sụn. Tuy nhiên điều này cần được kiểm chứng về mặt thời gian, và hiện tại còn chưa đủ thời gian theo dõi để khẳng định.
* Phương tiện hỗ trợ tạo hình khung sụn: Nagata sử dụng chỉ thép mảnh để cố định khung sụn [2]. Một số tác giả Mỹ đã sử dụng Ethibond (special order) để cố định các mẩu sụn với nhau [3], [5]. Vì điều kiện không cho phép, chúng tôi sử dụng chỉ thép 0,4mm và chỉ prolen để hỗ trợ trong tạo hình khung sụn. Có 2/19 bệnh nhân sử dụng hoàn toàn bằng chỉ thép để cố định, và ban đầu chúng tôi buộc nơ chỉ về mặt trước của khung sụn nên sau này theo dõi thì thấy cả hai bệnh nhân này đều có hiện tượng lộ chỉ thép. Có thể do chỉ thép của chúng tôi còn to và lại thắt nơ chỉ ở mặt trước nên gây hiện tượng lộ chỉ. Tuy nhiên sau khi rút chỉ thép, khung sụn vẫn ổn định và da che phủ vẫn đảm bảo. Để khắc phục tình trạng đó, chúng tôi hạn chế sử dụng chỉ thép (chỉ sử dụng giúp giữ nền khung sụn) và thắt nơ chỉ ở mặt sau khung sụn, đồng thời giữa các gờ và nền khung sụn, chúng tôi sử dụng prolen 4/0 giúp cho việc định hình khung sụn. Không còn thấy hiện tượng lộ chỉ ở 17/19 bệnh nhân.
* Da che phủ khung sụn:
Thành công của phẫu thuật chủ yếu phụ thuộc vào hai yếu tố chính đó là khung sụn và da che phủ khung sụn.  Sự thiếu hụt của da che phủ phía trên khung sụn và một vấn đề. Tuy nhiên có một số tác giả gợi ý đặt túi giãn để chuẩn bị cho vùng da sẽ nhận khung sụn [6].
Trong số 19 bệnh nhân của chúng tôi, 100% vạt da che phủ khung sụn sống tốt. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy vấn đề là nếu để vạt da dày (lấy theo cả 1 phần lớp mỡ) thì sức sống của vạt tốt nhưng làm lu mờ việc nổi các gờ của khung sụn; còn nếu bóc tách vạt da mỏng (không bóc kèm lớp mỡ) thì sức sống của vạt bị đe dọa nhưng lại giúp cho việc nổi các gờ của khung sụn rõ ràng và giúp cho khung sụn trở nên tự nhiên hơn. Với 2/19 bệnh nhân khuyết tai do di chứng chấn thương, thì cả hai khung sụn đều nổi không rõ. Do da phía trên che phủ khung sụn quá dày. Sở dĩ có hiện tượng đó là do bệnh nhân bị chấn thương, tổ chức tại chỗ khuyết tai ít nhiều có bị thương tổn (sẹo, bầm dập,…), trong lúc phẫu thuật chúng tôi lo ngại về vấn đề sức sống, nên cố ý để vạt da dày hơn vì thế mà kết quả sau mổ thì khung sụn không nổi rõ và tính thẫm mỹ kém hơn. Sau phẫu thuật thì hai 3 tháng, chúng tôi tiến hành làm mỏng da và gọt lại bề mặt khung sụn nhằm tạo các gờ nổi rõ hơn và tăng tính thẩm mĩ cho tai được tạo hình. Như vậy, việc bóc tách vạt da quá dày cũng sẽ cho kết quả thẩm mĩ không như mong muốn.
Theo Nagata, Brent thì việc chuyển dái tai đối với những trường hợp tai nhỏ còn dái tai thì hết sức quan trọng. Nagata chuyển ngay dái tai trong thì phẫu thuật lần đầu cùng với thời điểm đặt khung sụn, còn Brent đã xây dựng một thì mổ để tăng tính an toàn và dễ dàng hơn khi chuyển đơn vị giải phẫu dái tai tới vị trí mới [6], [2], [7]. Chúng tôi chủ yếu áp dụng thời điểm chuyển dái tai theo kĩ thuật của Nagata và có 9/19 trường hợp có di tích dái tai và khi chuyển sang vị trí mới đều có sức sống tốt, hình dáng tự nhiên.   
* Dựng khung sụn vành tai và tạo rãnh sau tai:
Tất cả các bệnh nhân khi dựng tai thì hai được chúng tôi thực hiện sau thì phẫu thuật đầu tiên tối thiểu là 6 tháng. Chúng tôi sử dụng mẩu sụn sườn đã chuẩn bị từ ngay thì phẫu thuật đầu tiên để chống khung sụn khi dựng vành tai. Mẩu sụn này có hình chêm và được đặt sâu vào rãnh sau tai khi bóc tách dựng vành tai. 19/119 trường hợp chúng tôi sử dụng vạt cân thái dương nông để che phủ mẩu sụn chống và ghép da dày phía sau tai và tại vị trí da đầu nơi đặt khung sụn nhằm tăng tính rõ nét của việc tạo rãnh sau tai. Cả Brent, Nagata và nhiều tác giả khác đều nhận thấy nếu sử dụng da mỏng ghép cho vùng sau tai, có thể gây co kéo và vì vậy mà có thể làm dính tái phát vành tai xuống, gây biến mất rãnh sau tai [2], [7].
* Trồng lại tai bằng kĩ thuật vi phẫu (1bn): Bn 30 tuổi, bị tai nạn sinh hoạt, đứt rời hoàn toàn tai P. Sau tai nạn BN được sơ cứu,phần tai đứt rời được bảo quản lạnh và được chuyển đến bệnh viện. Phẫu thuật vi phẫu cấp cứu nối lại động mạch và tĩnh mạch có kích thước khoảng 0,5mm để trồng lại tai đứt rời. Theo dõi sau phẫu thuật, tai đứt rời sống toàn bộ và cho kết quả mỹ mãn về mặt thẩm mỹ. Có rât nhiều yếu tố cần xem xét khi quyết định thái độ xử trí vết thương đứt rời tai. Nó bao gồm: nguyên nhân chấn thương, tình trạng, kích thước mảnh rời (gọi là phần ngoại vi), tình trạng phần còn lại (phần trung tâm trên bệnh nhân), thời gian thiếu máu, điều kiện bảo quản, tuổi và tình trạng toàn thân cũng như nguyện vọng mong muốn của bệnh nhân. Sau khi xem xét kỹ các yếu tố này, phẫu thuật viên sẽ quyết định thái độ xử trí:
- Không điều trị gì: Khi miếng rời bị mất, không tìm thấy hoặc quá dập nát, tình trạng tại chỗ và toàn thần của bệnh nhân không cho phép. Khi đó có thể khâu lại vết thương hoặc chờ đợi liền sẹo tự nhiên. Tai mất sẽ được tạo hình thì 2 bằng khụng sụn tự thân.
- Vi phẫu thuật: Tất cả các tác giả đều đồng ý phải nghĩ đến phương pháp nối ghép vi phẫu đầu tiên khi có thể vì nếu thành công thì phương pháp này cho kết quả tốt nhất về thẩm mỹ mà không một phương pháp nào so sánh được[1].
Ca vi phẫu đầu tiên được thực hiện năm 1980, đến nay có khoảng 30 ca được báo  cáo trong y văn thế giới, trong đó có 2/3 là thành công (mảnh ghép sống toàn bộ, kết quả thẩm mỹ tốt). Còn khoảng 10% thất bại hoàn toàn[1].Phẫu thuật vi phẫu yêu cầu triển khai siêu vi phẫu: kính hiển vi tốt, dụng cụ siêu nhỏ, phẫu thuật viên lành nghề… Thời gian phẫu thuật kéo dài 3 – 10 giờ. Theo dõi sau mổ vất vả kéo dài, cần điều trị chống đông dài ngày.
3.4 Các biến chứng:
- Theo khuyến cáo, các biến chứng gần có thể gặp như chảy máu, tụ máu, nhiễm trùng, thủng màng phổi,…[2], [6], [7]. Tuy nhiên, chúng tôi chưa gặp trường hợp nào có các hiện tượng này.
- Sẹo thành ngực: Đa số bệnh nhân đều cho rằng sẹo thành ngực kín đáo, tại chỗ lấy sụn sườn không đau, 10/19 bệnh nhân có sẹo quá phát. Không có bệnh nhân nào bị sẹo lồi.
- Tại chỗ lấy vạt cân thái dương: theo Nagata thông báo có 28,6% bệnh nhân bị hói tại nơi cho vạt, 17,4% bệnh nhân bị tê bì, 25% bệnh nhân có sẹo rõ với các bệnh nhân nam [2]. Tuy nhiên các bệnh nhân của chúng tôi thì sẹo đều kín đáo và dễ dàng chấp nhận và chưa thấy trường hợp nào bị hói.
- Biến dạng thành ngực: chúng tôi chưa gặp trường hợp nào có hiện tượng biến dạng thành ngực, có thể do thời gian theo dõi của chúng tôi còn chưa đủ dài để có thể kết luận. Còn theo Firmin và nhiều tác giả khác thì biến chứng này là một biến chứng hiếm gặp. Theo Ohara và cộng sự thì tỉ lệ gặp biến chứng này là trên 64% đối với trẻ em dưới 10 tuổi và 20% trẻ ở tuổi lớn hơn. Brent lại quan sát thấy biến chứng này xảy ra ở hầu hết các bệnh nhân. Có thể ở các nước phát triển, các trường hợp khuyết tai này đều được điều trị sớm 6 – 10 tuổi nên tỉ lệ biến dạng lồng ngực rất cao [2].
- 100% bệnh nhân không bị hoại tử vạt da che phủ khung sụn, hoại tử cân che phủ sụn sau chống, hoại tử da ghép, hoại tử dái tai. Không có bệnh nhân nào bị lộ khung sụn.
- 3/19 bệnh nhân vùng da che phủ mặt trước khung sụn vành tai có mang tóc (tai mang tóc), các bệnh nhân này đều khuyết tai trong bệnh cảnh Hemifacial microsomia. Các tác giả như Nagata, Brent, Firmin, … đều gặp hiện tượng này [8]. Hiện nay có thể khắc phục bằng cách sử dụng laser để triệt lông. Trong tương lai, với các bệnh nhân này, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục khắc phục tình trạng kém thẩm mỹ này.
IV. Kết luận:20 bệnh nhân khuyết tai, tuổi trung bình 14,26 (nhỏ nhất 5 tuổi, lớn nhất 30 tuổi), - 19/20 bệnh nhân được tạo hình tai bằng khung sụn tự thân theo kĩ thuật Nagata gồm hai giai đoạn. 100% vạt da che phủ trên tai, vạt dái tai (nếu có) và khung sụn sống tốt.
-1/20 bệnh nhân được nối lại tai đứt rời và sống 100%
- 3/19 bệnh nhân có mang tóc trên tai tạo hình.
- 10/19 bệnh nhân có sẹo quá phát vùng ngực.
- Tạo hình tai toàn bộ cókĩ thuật phức tạp (về vi phẫu cũng như sử dụng khung sụn tự thân) đòi hỏi tính tỉ mỉ, cẩn thận rất cao, luôn là một thách thức với các PTV tạo hình.
Tài liệu tham khảo:
1.                  A comparison of ear reattachment methods: a review of 25 years since Pennington.Steffen, A., R. Katzbach, and S. Klaiber, Plast Reconstr Surg, 2006. 118(6): p. 1358-64.
2.                  Aesthetics and functionality in ear reconstruction, advances in Oto-Rhino-Laryngology, Editor R. Staudenmaier, vol 68
3.                  EarReconstruction Using a PorousPolyethylene Framework andemporoparietalFascia Flap, John F. Reinisch, M.D, and Sheryl Lewin, M.D,Facial plastic surgery 2009, 25: number 3, 181-189
4.                  Embryology and epidemiology of microtia. Tuomas Klockars, M.D, Ph.D, and Jorma Rautio, M.D., Facial plastic surgery 2009, 25: 145 - 148
5.                  Learning to perform ear reconstruction. Gordon H. Wilkes, M.D., F.R.C.S.C , Facial plastic surgery 2009, 25: 158 – 163.
6.           One-Stage Ear Reconstruction After AvulsionInjury, Using the Amputated Cartilage and aRetroauricular Transposition Flap. Theodora Manoli, MD, Patrick Jaminet, MD, Armin Kraus, MD, Hans-EberhardSchaller, MD, Frank Werdin, MD, and Nektarios Sinis, MD,Published January 18, 2010.
7.                  The Learning Curve in Microtia Surgery. Samuli Suutarla, M.D., Jorma Rautio, M.D.,and Tuomas Klockars, M.D., Ph.D.Facial plastic surgery 2009, volume25, number 3, 2009.
8.                  Treatment of unwanted hair in auricular reconstruction. David Gault, F.R.C.S. Facial plastic surgery 2009, 25: 175 – 180.

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
You are here: Home Category Blog Kết quả tạo hình tai do khuyết tai toàn bộ tại bệnh viện Việt Đức

Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...

Tin tức, sự kiện mới

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...

Thông tin mới

Tin xem nhiều