Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

  • Giới thiệu

  • Tin tức

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...
HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...
Bảng quảng cáo

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN HẸP BAO QUY ĐẦU Ở TRẺ EM

Email In PDF.
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN HẸP BAO QUY ĐẦU Ở TRẺ EM
Trương Quang Định, Tôn Thị Anh Tú
Bệnh viện Nhi Đồng 2, TPHCM
Tác giả liên lạc:Bs Tôn Thị Anh Tú  ĐT:0909449444  Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
TÓM TẮT
            Mục tiêu:xác định tỉ lệ thành công của điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu ở trẻ em và mối liên hệ giữa đặc điểm dân số, xã hội, bao quy đầu, kiến thức về hẹp bao quy đầu, thực hành điều trị tại nhà của phụ huynh với tỉ lệ điều trị thành công.
            Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 346 trẻ hẹp bao quy đầu có triệu chứng, với 2 loại: loại I (hoàn toàn không tuột lên được), loại II (chỉ thấy được lỗ tiểu), được phụ huynh dẫn đến khám tại phòng khám bệnh viện nhi đồng 2 từ tháng 11/2013 đến tháng 4/2014. Dữ liệu được thu thập từ phụ huynh thông qua bảng câu hỏi về các yếu tố dân số xã hội, đặc điểm bao quy đầu, kiến thức về hẹp bao quy đầu và thực hành điều trị tại nhà. Phụ huynh được hướng dẫn sử dụng kem thoa betamethasone dipropionate 0,05% trên vòng hẹp 2 lần/ ngày tối đa 2 tháng và nong bao quy đầu mỗi ngày cho bé. Bé được theo dõi, tái khám lúc 1 tuần, 4 tuần và 8 tuần cho đến khi điều trị thành công.
            Kết quả: 346 trẻ được khảo sát với độ tuổi trung bình là 20 tháng. Điều trị bảo tồn trong 4 tuần đạt tỉ lệ thành công là 75,72% và  tiếp tục đủ 8 tuần thì đạt 95,38%. Kiến thức chung về hẹp bao quy đầu đúng chiếm 46,71%. Thực hành chung tại nhà đúng chiếm 94,8%.  Mối liên hệ: bao quy đầu thuộc loại II, không vùi dương vật kèm theo, thực hiện nong nhẹ bao quy đầu, vệ sinh hàng ngày, tái khám đủ theo hẹn có tỉ lệ thành công cao hơn.
            Kết luận: Điều trị bảo tồn là một lựa chọn thay thế tốt cho phẫu thuật trong điều trị hẹp bao quy đầu. Trong đó, thực hiện thoa thuốc đủ, nong vệ sinh bao quy đầu hàng ngày và tái khám đủ đóng vai trò quan trọng. Sự cải thiện của điều trị cần thời gian 1 - 2 tháng. Phụ huynh thực hành tại nhà theo hướng dẫn tốt nhưng kiến thức đúng về hẹp bao quy đầu còn thấp. 
            Từ khóa:hẹp bao quy đầu, điều trị bảo tồn, steroid tại chỗ, nong bao quy đầu.
ABSTRACT
TOPICAL STEROIDS AND PHYSIOTHERAPY FOR NONRETRACTILE PHIMOSIS IN INFANTS
Truong Quang Dinh, Ton Thi Anh Tu
            Objectives: Todetermine the success rate of conservative treatment for phimosis in infants and the correlation between the population, social factors, characteristics of prepuce, parents's knowleadge of phimosis and practice of guidelines for the treatment at home, and the success rate.
            Methods:A study was conducted on 346 infants under 15 years old with clinical diagnosis of phimosis in type I (no foreskin retraction) and type II (exposure of the urethral meatus), taken to outpatient department of the Children Hospital 2 from November 2013 to April 2014. Data were collected from the parents by interviewer using a structured questionnaires on demographics, parents's knowleadge of phimosis and practice of guidelines for the treatment at home. The parents were instructed to apply 0,05% betamethasone dipropionate cream topically twice a day for a maximum of 8weeks, in association with correct hygiene of the penis. Follow-up consultations were scheduled at 1 week, 4 weeks and 8 weeks.
            Results:Three hundred fourty-six boys were evaluated. The median age was 20 months. 75,72% of them had a retractile foreskin at the 4-week follow-up and 95,38% at the 8-week follow-up. The right general knowleadge was 46,71%. The right general pratice at home was 94,8%. Correlation: phimosis in type II, not buried penis, applied cream topically twice a day, careful retraction the foreskin with correct hygiene of the penis, had follow-up examination had the higher success rate.
            Conclusions:Our study shows that topical steroids (0,05% betamethasone diprobionate) and physiotherapy represent a good alternative to surgery in case of phimosis. Besides, applied cream topically twice a day, careful retraction the foreskin with correct hygiene of the penis, had follow-up examination seem to play an important role in the success. The improvement may require 1 to 2 months of treatment. The practice of guidelines for the treatment at home of the parents was good, but their knowleadge wasn't good.
            Key words:phimosis, conservative treatment, topical steroid, phisiotherapy.
ĐẶT VẤN ĐỀ
            Hẹp bao quy đầu (QĐ) là một tình trạng thường gặp ở bé trai. Bao QĐ vẫn chưa tuột lên được đến 96% sau khi sinh, 80% lúc 6 tháng tuổi, 50% lúc 12 tháng tuổi, 20% lúc 2 tuổi và 10% trước 3 tuổi [2],[4],[7]. Vì thế hẹp bao QĐ có thể là hẹp sinh lý hoặc bệnh [3],[8]. Tình trạng sinh lý hay bệnh đã bị chẩn đoán nhầm lẫn và được điều trị quá mức, như trong một nghiên cứu ở Anh vào những năm cuối thập niên 1980, có đến 2/3 phẫu thuật cắt bao QĐ là không cần thiết [19],[21]. Trong những năm 90, trên thế giới nhiều tác giả đã giới thiệu phương pháp điều trị bảo tồn hẹp bao QĐ bằng cách sử dụng kem chống viêm steroid bôi tại chỗ với tỉ lệ thành công từ 65.8% đến 95% [6],[9],[11],[12],[13],[14],[15],[16],[17],[18],[20],[22],[23],[24],[25]. Nhìn chung, hẹp bao QĐ là tình trạng phổ biến ở trẻ em. Tuy vậy việc hiểu rõ bản chất của hẹp bao QĐ vẫn còn rất mơ hồ đối với đa số các phụ huynh. Chỉ định phẫu thuật cắt bao QĐ và điều trị bảo tồn chưa được thống nhất một cách rõ ràng giữa các phẫu thuật viên nhi cũng như các bác sĩ nhi khoa, mặc dù phương pháp điều trị bảo tồn có những ưu thế nổi bật. Điều này ảnh hưởng đến sự tuân thủ, hợp tác của phụ huynh trong quá trình điều trị hẹp bao QĐ. Chính vì thế, đánh giá phương pháp điều trị bảo tồn (sử dụng kem chống viêm steroid bôi tại chỗ kết hợp với nong bao QĐ), cũng như sự lựa chọn và tuân thủ hợp tác của phụ huynh trong quá trình điều trị có ảnh hưởng như thế nào đối với điều trị hẹp bao QĐ ở trẻ em là điều cần tìm hiểu. Chúng tôi nghiên cứu theo các mục tiêu sau:
        1. Xác định tỉ lệ thành công của điều trị bảo tồn hẹp bao QĐ.
        2. Xác định tỉ lệ kiến thức về hẹp bao QĐ và thực hành điều trị tại nhà đúng
        3. Xác định các mối tương quan giữa đặc điểm dân số xã hội, bệnh, kiến thức về hẹp bao QĐ, thực hành điều trị tại nhà và tỉ lệ thành công.     
ĐỒI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dân số chọn mẫu: Các bệnh nhi bị hẹp bao QĐ loại I, loại II theo Kayaba (Bảng 1) có triệu chứng, đến khám bệnh tại phòng khám ngoại bệnh viện Nhi Đồng II, từ tháng 11/2013 đến tháng 4/2014 
Tiêu chí loại ra khỏi nghiên cứu: sơ sinh < 28 ngày tuổi, đã từng được điều trị hẹp bao QĐ trước đây, có triệu chứng viêm xơ chít hẹp bao QĐ (BXO), lỗ tiểu thấp, phụ huynh không đồng ý tham gia
Cỡ mẫu: 346
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt ca 
Cách tiến hành:Người nghiên cứu trực tiếp khám, chẩn đoán, phân loại bệnh nhi vào 5 nhóm dựa theo phân loại bao QĐ của Kayaba (bảng 1) và chọn những bệnh nhi có BQĐ thuộc loại I, loại II thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu để phỏng vấn phụ huynh, lấy một số thông tin. Sau đó tiến hành điều trị bảo tồn.
            Phương pháp điều trị bảo tồn: bệnh nhi được thoa kem Gentrisone chứa Betamethasone dipropionate 0,05% và nong bao QĐ, thực hiện tại bệnh viện và tại nhà. Điều trị lần đầu tại bệnh viện, bệnh nhi được gây tê tại chỗ bằng thuốc tê Lidocain 10% xịt, sau đó nong tách dính giữa hai lớp bao QĐ và QĐ bằng tay tới mức có thể, không làm rách hay chảy máu, rửa sạch các bã rồi bôi một lớp kem mỏng tại vị trí vòng thắt hẹp một cách nhẹ nhàng, tránh làm rách da, chảy máu, đồng thời hướng dẫn chi tiết phụ huynh cách thực hiện. Tại nhà, phụ huynh trực tiếp nong tách dính bao QĐ, vệ sinh, và bôi thuốc bao QĐ 2 lần/ngày buổi sáng và chiều. Sau 1 và 4 tuần, tái khám để đánh giá kết quả theo phân loại bao QĐ. Kết quả được gọi là thành công khi bệnh nhi đạt đến phân loại V bao QĐ (Bảng 1). Các trường hợp còn lại sẽ tiếp tục điều trị tại nhà và tái khám lúc 8 tuần cho đến khi đạt được kết quả thành công. 
Phương pháp xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS 16.
Bảng 1. Phân loại bao QĐ của Kayaba [10]
Loại
Tính chất bao QĐ
I
Cả bao QĐ không tuột lên
II
Bao QĐ tuột lên chỉ để lộ lỗ tiểu ra ngoài
III
Bao QĐ tuột lên để lộ nửa QĐ
IV
Bao QĐ tuột lên đến phần trên vành QĐ, vị trí bám dính bao QĐ
V
Bao QĐ tuột lên dễ dàng, để lộ hoàn toàn QĐ
 
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm bao quy đầu: Loại I (179; 51,7%) tương đương loại II (167; 48,3%)
Kiến thức chung đúngvề hẹp bao QĐ của phụ huynh chỉ đạt gần phân nửa (162; 46,7%).
Thực hành chung đúngchiếm tỉ lệ rất cao (328; 94,8%).
Kết quả sau điều trị
Bảng 2. Kết quả sau điều trị 
Kết quả
N = 346
Tỉ lệ %
Thành công
Không thành công
330
16
95,4
4,6
Chọn lựa cách điều trị
        Bảo tồn
        Cắt bao QĐ
 
339
7
 
98
2
Bảng 3. Tiến triển của bao QĐ theo thời gian
Thời gian điều trị
(tuần)
Loại bao QĐ
Thành công
n (%)
Đáp ứng một phần n (%)
Không thay đổi
n (%)
N
p
1
I
0 (0)
131 (73,2)
48 (26,8)
179
0,082*
 
II
0 (0)
107 (64,2)
60 (35,9)
167
 
4
I
115 (64,2)
62 (34,7)
2
(1,1)
179
<0,05*
 
II
147 (88)
16
(9,6)
4
(2,4)
167
 
8
I
166 (92,7)
12
(6,7)
1
(0,6)
179
0,033*
 
II
164 (98,2)
3
(1,8)
0
(0)
167
 
 
(*): Kiểm định chính xác Fisher
Mối tương quan giữa các đặc điểm bệnh với tỉ lệ thành công
Bảng 4. Mối tương quan giữa các đặc điểm bao QĐ với tỉ lệ thành công  
 
Loại bao QĐ
Thành công
Không thành công
p
n
n
        Loại I
        Loại II
166
164
13
3
0.016
(*): Kiểm định chính xác Fisher
Bảng 5. Mối tương quan giữa kiến thức về hẹp bao QĐ với tỉ lệ thành công  
 
Đặc điểm
Thành công
Không thành công
p
n
n
Hẹp bao QĐ cần điều trị sớm khi có triệu chứng 
        Đúng
        Sai
 
79
251
 
4
12
 
1,000*
Điều trị hẹp bao QĐ có hai phương pháp: thoa thuốc lên bao QĐ kết hợp nong bao QĐ và phẫu thuật cắt bao QĐ
        Đúng
        Sai
 
 
179
151
 
 
11
5
 
 
 
0.255
Thoa thuốc lên bao QĐ kết hợp nong bao QĐ có hiệu quả sau vài tuần đến vài tháng
         Đúng
         Sai
 
 
189
141
 
 
9
7
 
 
 
0,936
 
(*): Kiểm định chính xác Fisher
Bảng 6. Mối tương quan giữa thực hành điều trị tại nhà với tỉ lệ thành công  
 
Đặc điểm
Thành công
Không thành công
p
n
n
 
Nong nhẹ bao QĐ và vệ sinh hàng ngày
        Đúng
        Sai
 
320
10
 
7
9
 
 
<0.05*
Thoa thuốc hai lần/ ngày
         Đúng
        Sai
 
309
21
 
12
4
 
0,021*
Tái khám đủ theo hẹn 
       Đúng
       Sai
 
302
28
 
2
14
 
<0,05*
(*): Kiểm định chính xác Fisher
BÀN LUẬN
Kết quả điều trị bảo tồn hẹp bao QĐ
Steroid: trong nghiên cứu, bệnh nhi được điều trị với kem thoa Gentrisone có chứa betamethasone dipropionate 0.05%. Đây là một steroid dùng tại chỗ có hiệu lực cao. Tại Úc, vào đầu những năm 1990, Kikiros và cộng sự đã chứng thực hiệu quả của steroid trong điều trị hẹp bao QĐ [9]. Kể từ đó, các tác giả khác đã chỉ ra những kết quả khả quan với tỉ lệ thành công từ 65,8% đến 95% khi sử dụng các dạng steroid với các mức hiệu lực cao, trung bình như clobetasol propionate 0,05%, betamethasone dipropionate 0,05%, betamethasone valerate 0,2%, 0,1%, 0,06%, mometasone furoate 0,1%, hay steroid mức hiệu lực thấp clobetasol butyrate 0,05%, , hydrocortisone 1%, 2%, 0,1%. Trong đó ghi nhận các steroid có hiệu lực càng cao thì cho tỉ lệ thành công càng cao, và betamethasone có tỷ lệ cải thiện tốt nhất [1],[6],[9],[11],[12],[13],[14], [15],[16],[17],[18],[20],[22],[23],[24],[25]. Chính vì thế nghiên cứu này chọn kem betamethasone dipropionate 0,05%, steroid có hiệu lực cao, với mong muốn đạt được kết quả cao nhất. Trong quá trình điều trị, chúng tôi ghi nhận không có tác dụng phụ tại chỗ nào. Còn tác dụng phụ toàn thân do không đủ điều kiện nên nghiên cứu không đánh giá được mức cortisol buổi sáng của bệnh nhi để xác định, tuy nhiên các bệnh nhi không có biểu hiện lâm sàng nào đáng chú ý. 
Tuổi bệnh nhi:đối tượng được đưa vào nghiên cứu gồm tất cả các bệnh nhi > 28 ngày tuổi bị hẹp bao QĐ có triệu chứng. Các bệnh nhi sơ sinh không được chọn vì ở độ tuổi này hẹp bao QĐ đến 96% là hẹp sinh lý, triệu chứng nếu có cũng chỉ thoáng qua, khi đó phụ huynh chỉ cần vệ sinh đúng cách tại chỗ sẽ cải thiện được tình trạng này [2],[4],[7]. Đồng thời steroid được khuyến cáo không nên sử dụng cho trẻ sơ sinh [5]. Mặc dù dưới 3 tuổi phần lớn là hẹp bao QĐ sinh lý, nhưng những trường hợp có triệu chứng cũng nên được điều trị sớm, thúc đẩy nhanh quá trình tuột lên của bao QĐ để phòng ngừa trường hợp viêm nhiễm bao QĐ tái đi tái lại. Tương tự, Lee và cộng sự năm 2006 thực hiện nghiên cứu đầu tiên trên các bệnh nhi nhũ nhi từ 18 ngày tuổi đến 12 tháng, có tỉ lệ điều trị bảo tồn thành công rất cao 92,3% [11]. Elmore chọn các bệnh nhi nhỏ hơn 3 tuổi điều trị với betamethasone 0,05% có tỉ lệ thành công là 92% và ông cho rằng nên thay thế phẫu thuật cắt bao QĐ bằng điều trị bảo tồn hẹp bao QĐ cho các bệnh nhi < 3 tuổi. Yang và cộng sự đã so sánh sự khác biệt về tỉ lệ thành công giữa nhóm bệnh nhi trên và dưới 3 tuổi, ghi nhận kết quả cao, giống nhau giữa 2 nhóm tuổi [25]. Các nghiên cứu khác được thực hiện ở những độ tuổi khác nhau như Nzayisenga chọn các bệnh nhi từ 1 đến 14 tuổi [17], Orsola từ 13 tháng đến 14 tuổi [18], Tatiana từ 19 tháng đến 14 tuổi [23], Pileggi từ 2 - 13 tuổi [20]. Còn các nghiên cứu khác chọn bệnh nhi trên 3 tuổi [6],[12],[16]. Nhìn chung, các nghiên cứu điều trị bảo tồn hẹp bao QĐ được thực hiện trên bệnh nhi mọi lứa tuổi.
Thời gian điều trị: kéo dài từ 4 đến 8 tuần. Đây là thời gian đạt được kết quả điều trị trong hầu hết các nghiên cứu trước đây. Điều trị thành công theo quy ước trong nghiên cứu này là bao QĐ được tuột lên hoàn toàn. Kết quả thu được ở bảng 2 ghi nhận tỉ lệ thành công khi điều trị bảo tồn hẹp bao QĐ bằng thuốc steroid (kem betamethasone 0,05%) bôi tại chỗ kết hợp nong vệ sinh bao QĐ rất cao (330; 95,4%). Thời gian điều trị kéo dài đến 4 tuần, nếu vẫn chưa thành công thì tiếp tục điều trị thêm 4 tuần nữa. Trong 4 tuần đầu kết quả điều trị thành công 263 (76%). Tiếp tục đến 8 tuần thì có thêm 67 (19,4%) bệnh nhi đáp ứng với điều trị (bảng 3). Tỉ lệ thành công tăng dần theo thời gian. Vì thế thời gian điều trị khuyến cáo có thể kéo dài đến 8 tuần để đạt được kết quả tối ưu. Tuy nhiên, tiến triển đáp ứng với điều trị rất thuận lợi. Chỉ sau tuần đầu tiên, đến 73,2% nhóm bao QĐ loại I có đáp ứng, tuột lên được một ít và 64,2% nhóm bao QĐ loại II tuột lên đạt được đến loại III hay IV (bảng 3). Trong nghiên cứu của Lee và cộng sự, đối với bệnh nhi nhỏ, họ chỉ yêu cầu bao QĐ đạt đến loại III, IV để bé có thể tiểu dễ dàng, tránh sự ứ đọng nước tiểu dễ gây viêm nhiễm. Kết quả cho thấy đã giảm được tỉ lệ nhiễm trùng tiểu tái phát ở nhóm bao QĐ tuột lên được một phần hay hoàn toàn (7,1%) so với nhóm bao QĐ không tuột lên được (29,6%) [11]. Đến 4 tuần, tỉ lệ có đáp ứng và thành công của loại I đến 98,9%, loại II 97,6%. Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể, thời gian điều trị có thể rút ngắn lại và yêu cầu không nhất thiết phải tuột xuống hoàn toàn, mà chỉ cần đáp ứng thành loại III, loại IV (theo phân loại của Kayaba). Tương tự, Orsola nghiên cứu trên 137 bệnh nhi hẹp bao QĐ dùng kem betamethasone 0,05% trong thời gian 4 tuần và tiếp tục theo dõi trong vòng 6 tháng, ghi nhận tỉ lệ thành công 90% [18]. Tatiana và cộng sự đánh giá sự đáp ứng steroid (betamethasone 0,05%) của từng loại hẹp bao QĐ ghi nhận tỉ lệ thành công 94,2% và thời gian cần thiết có thể kéo dài đến 4 tháng [23]. Một nghiên cứu khác tại Thái Lan (2005) của Yang thực hiện trên 70 bệnh nhi từ 1 đến 12 tuổi bị hẹp bao QĐ được điều trị với betamethasone 0,06% hay clobetasone 0,05% với thời gian tối đa là 8 tuần, đạt tỉ lệ thành công lần lượt là 81,3% và 77,4%. Tỉ lệ này thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi có thể do steroid chúng tôi sử dụng có hiệu lực cao hơn so với clobetasone và số lượng mẫu lớn hơn [25]. Lund đánh giá hiệu quả của steroid tại chỗ trên 137 bệnh nhi hẹp bao QĐ. Sau 8 tuần 88% đã tuột được bao QĐ lên hoàn toàn [12]. Thời gian điều trị tương tự nhưng steroid lại có hiệu lực thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi nên kết quả có phần thấp hơn. Tương tự, Nzayisenga cũng sử dụng betamethasone 0,1% điều trị cho 182 bệnh nhi, đạt được tỉ lệ thành công 89% sau 6 tuần [17]. Nhìn chung, tỉ lệ thành công khi điều trị bảo tồn hẹp bao QĐ rất cao, thời gian khuyến cáo là 4 tuần và có thể kéo dài đến 8 tuần. Với thời gian này, bệnh nhi chỉ cần tái khám 2 lần. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ điều trị của phụ huynh. Như đánh giá của Nascimento, khoảng thời gian 8 tuần không ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của phụ huynh [16].
Tình trạng bao QĐ và tỉ lệ thành công:
            Những bệnh nhi có bao QĐ thuộc loại I và loại II được đưa vào nghiên cứu chiếm tỉ lệ tương đương nhau: loại I (179; 51,7%), loại II (167; 48,3%). Tương tự trong nghiên cứu của Orsola và cộng sự từ năm 1997 đến năm 1998 thực hiện tại phòng khám niệu nhi ở Fundacio Pulgvert, Tây Ban Nha trên 137 bệnh nhi có sự phân bố hai loại hẹp bao QĐ tương đương nhau: loại I chiếm 37 (27%), loại II chiếm 39 (28,46%) [18]. Qua kết quả phân tích đơn biến (bảng 4) cho thấy nhóm hẹp bao QĐ loại I có tỉ lệ thành công thấp hơn so với loại II có ý nghĩa thống kê (92,7% so với 98,2%; p < 0,05). Khi xét về thời gian cần để điều trị thành công (bảng 3) tại thời điểm mỗi tuần, bao QĐ loại II được điều trị thành công cao hơn loại I. Sau 4 tuần, loại II thành công chiếm 88%, trong khi loại I chỉ thành công 64,2%. Sau 8 tuần, loại II vẫn đạt được tỉ lệ thành công cao hơn loại I có ý nghĩa thống kê (98,2% so với 92,7%, p < 0,05) . Chính giải phẫu của bao QĐ đã tạo nên sự khác biệt này, loại I khi bao QĐ hoàn toàn chưa tách ra nên quá trình điều trị, nong sẽ khó khăn hơn và mất nhiều thời gian hơn so với loại II, khi bao QĐ đã tách ra một ít, làm lộ lỗ sáo. Nhất là dạng bao QĐ có hình ống dài, khi đó cần có thời gian để bao QĐ dãn rộng ra dần. Một nghiên cứu ở Brazil (2005) của Tatiana và cộng sự đánh giá sự đáp ứng steroid (betamethasone 0.05%) của từng loại hẹp bao QĐ có kết quả tương tự. Tatiana ghi nhận nhóm A (bao QĐ hoàn toàn không tuột lên), tương tự như loại I trong nghiên cứu của chúng tôi, có tỉ lệ thành công là 90,4% và trong đó tỉ lệ thành công với thời gian cần thiết để điều trị sau một tháng là 50%, sau hai tháng là 13,1%, sau ba tháng là 21,6% và sau bốn tháng là 13,5%. Như vậy ​35% cần thời gian đến 3 hay 4 tháng mới đạt được kết quả mong muốn. Trong nhóm B (loại II, bao QĐ tuột lên chỉ để lộ lỗ sáo ra ngoài) có tỉ lệ thành công 98,7% cao hơn so với loại I, 64,2% bệnh nhi cho thấy kết quả mong muốn trong vòng tháng đầu tiên, 21,4% được điều trị thành công trong tháng thứ hai và 14,2% cần ba hay bốn tháng để điều trị thành công. Bệnh nhi có bao QĐ ở nhóm II (nhóm B) có tỉ lệ điều trị thành công cao hơn và cần ít thời gian hơn để đạt được kết quả mong muốn [23].    
            Do thời gian hạn chế nên nghiên cứu này không đánh giá được tỉ lệ tái phát sau điều trị. Tuy nhiên, vấn đề này đã được đề cập đến trong một số nghiên cứu trên thế giới. Nascimento và cộng sự theo dõi trong thời gian 8 tháng ghi nhận tỉ lệ tái phát là 2,4% [16]. Orsola và cộng sự quan sát thấy tỉ lệ tái phát có liên quan rõ ràng đến việc không tiếp tục nong và vệ sinh bao QĐ sau khi điều trị thành công [18]. Tương tự, nghiên cứu của Pileggi cũng nhấn mạnh vòng hẹp có thể tái phát nếu nong, vệ sinh bao QĐ không được duy trì sau khi điều trị hoàn thành [20]. Esposito đã chứng minh sự ổn định của kết quả khi theo dõi 12 tháng và cũng nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của việc nong vệ sinh hàng ngày bao QĐ [6]. Vì thế, để có thể đánh giá kết quả điều trị lâu dài nghiên cứu nên tiếp tục theo dõi bệnh nhi, ít nhất trong 1 năm.
Các mối tương quan: Qua kết quả phân tích đơn biến (bảng 5) các đặc điểm kiến thức về hẹp bao QĐ đều không có mối tương quan với tỉ lệ thành công. Mặc dù vậy nếu phụ huynh hiểu rõ hơn về tình trạng này, họ sẽ biết và chấp nhận điều trị dễ dàng hơn. Ngược lại chính sự tuân thủ điều trị là chìa khóa thành công, biểu hiện thông qua kết quả phân tích đơn biến (bảng 6) ghi nhận nhóm thực hiện "Nong nhẹ bao QĐ và vệ sinh hàng ngày", "Thoa thuốc hai lần/ngày", "Tái khám đủ theo hẹn" có tỉ lệ thành công cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Tương tự trong nghiên cứu của Lee và cộng sự đã xác định tỉ lệ thành công tăng lên khi sử dụng thuốc có kết hợp với nong bao QĐ mỗi ngày (96,1% so với chỉ dùng thuốc bôi tại chỗ có tỉ lệ thành công là 76,9%) [11]. Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả khác như Esposito (2008), Orsola (1997), Pileggi và Vicente đều nhấn mạnh vai trò quan trọng trong việc làm mất đi vòng thắt hẹp bao QĐ và phòng ngừa tái phát của nong và vệ sinh bao QĐ lặp đi lặp lại mỗi ngày và ngay cả sau khi ngưng thuốc [6],[18],[20].
KẾT LUẬN
Hẹp bao QĐ phổ biến ở trẻ < 3 tuổi. Hẹp bao QĐ đáp ứng tốt với điều trị bảo tồn (bằng betamethasone 0,05% bôi tại chỗ kết hợp với nong, vệ sinh bao QĐ). Đây là một lựa chọn thay thế tốt cho phẫu thuật trong điều trị hẹp bao QĐ với tỉ lệ thành công rất cao 95,4%. Trong đóbao QĐ loại I điều trị khó khăn hơn và có tỉ lệ điều trị thành công thấp hơn bao QĐ loại II. Việc tuân thủ điều trị của phụ huynh về việc nong vệ sinh bao QĐ hàng ngày, thực hiện thoa thuốc và tái khám đúng hẹn đóng vai trò quan trọng, làm tăng tỉ lệ điều trị thành công. Thời gian cần thiết để điều trị thành công là 4 tuần và có thể kéo dài đến 8 tuần để đạt kết quả tối ưu.
Kiến thức của phụ huynh về hẹp bao QĐ vẫn còn hạn chế. Việc phụ huynh thực hiện điều trị tại nhà tốt, thoa thuốc và nong, vệ sinh bao QĐ như hướng dẫn đầy đủ, đưa bé đi tái khám đủ theo hẹn ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ điều trị thành công. Điều này cho thấy vai trò của người thầy thuốc, vai trò của phụ huynh, sự hợp tác điều trị giữa thầy thuốc và phụ huynh đều rất quan trọng cho thành công của phương pháp điều trị bảo tồn hẹp bao QĐ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.                  Nguyễn Tiến, Lê Đức Thu Nga, Lê Công Thắng (2005), "Điều trị bảo tồn hẹp da quy đầu với kem bôi da steroid", Y học TPHCM, tập 9 (1), tr.28-33.
2.                  Cold CJ, and Taylor JR. (1999), "The prepuce", BJU Int 83(suppl1), pp.34-44.
3.                  Davenport, M. (1996), "ABC of general surgery in children: problems with             the penis and prepuce", BMJ 312 pp.299-301.
4.                  Deibert GA, D. (1933), "The separation of the prepuce in the humen penis",  Anat Rec 57 , pp.387-389.
5.                  Eric, T., Herfindal, D (2011), "Corticosteroid", Goodman & Gilman's pharmacological basis of therapeutics, 12th ed, Laurence Brunton, pp. 165-175.
6.                  Esposito, C., Centonze, A., Alicchio, F., Savanelli, A., & Settimi, A. (2008), "Topical steroid application versus circumcision in pediatric patients with phimosis: a prospective randomized placebo controlled clinical trial"    World J Urol 26 pp.187-190.
7.                  Gairdner, D. (1949), "The fate of the foreskin", BMJ 2 , pp.1433-1437.
8.                  Hutton, K.A. (2008), "The prepuce", Essentials of Peadiatric Urology, 2nd             ed, Informa healthcare, pp.233-245
9.                  Kikiros, C., Beasley, S., & Woodward, A. (1993), "The response of phimosis         to local steroid application", Pediatric Surg Int 8, pp.329-332.
10.              Kayaba H, Tamura H, Kitajima S, Fujiwara Y& Kato T. (1996) "Analysis of shape and retractibility of the prepuce in 603 Japanese boys" J Urol 156,pp.1813-1815.
11.              Lee, J. W., Cho, S. J., Park, E. A., & Lee, S. J. (2006), "Topical hydrocortisone and physiotherapy for nonretractile physiologic phimosis in infants", Pediatric Nephrol 21, pp.1127-1130.
12.              Lund, L., Wai, K., Mui, L., & Yeung, C. (2000), "Effect of topical steroid on non-retractile prepubertal foreskin by a prospective, randomized, douple-blind study", Scand J Urol Nephrol 34, pp.267-269.
13.              Lee, C.H., Lee, S.D. (2013), "Effect of topical steroid (0,05% clobetasol propionate treatment in children with severe phimosis", Korean J Urol 54 (9), pp.624-630.
14.              Murphy, F., Celis, S., Reed, F., Adams, S., Gillick, J., Abdelhafeez, A.H., Lopez, P.J.  (2014), "Balanitis xerotica obliterans in chilren and aldolescents: a literature review and clinical series", Journal Pediatric Urol 10 (1), pp.34-39.
15.              Miernik, A., Kuehhas, F.E., Sevcenco, S., Tosev, G., Weibl, P, Schoenthaler,         M., Lassmann, J. (2012), "Predictive power of objectivation of phimosis         grade on outcomes of topical 0,1% betamethasone treatment of phimosis", Urology 80 (2), pp.412-416.
16.              Nascimento, F. J., Pereira, R. F., Silva II, J. L., Tavares, A., & Pompeo, A.             C. (2011), "Topical Betamethasone and hyaluronidase in the treatment of phimosis in boys: a double-blind, randomized, placebo controlled trial",  International Braz J Urol 37 (3), pp.314-319.
17.              Nzayisenga, J., Munkonge, L. & Labib, M. (2005), "Treatment of phimosis with topical steroids as alternative to circumcision", East and Central African Journal of Surgery 10  (2), pp.63-66.
18.              Orsola, A., Caffaratti, J., & Garat, J. (2000), "Conservative treatment of phimosis in children using a topical steroid", Urology 56, pp.307-310.
19.              Oster, J. (1986), "The further fate of the foreskin", Arch. Dis. Child 43, pp.200-203.
20.              Pileggi, F. d., & Vicente, Y. A. (2007), "Phimotic ring topical corticoid cream 0.1 % mometasone furoate) treatment in children", Journal of Pediatric Surgery 42, pp.1749-1752.
21.              Rickwood, A., & Walker, J. (1989), "Is phimosis overdiagnosed in boys and          are too many circumcisions performed in consequence?" Ann R Coll Surg 71, pp.275-277.
22.              Sookpotarom, P., Asawutmangkul, C., Srinithiwat, B., Leethochawalit, S., Vejchapipat, P. (2013), "Is haft strength of 0,05% betamethasone valerate cream still effective in the treatment of phimosis in yough children?"        Pediatr Surg Int 29 (4), pp.393-396.
23.              Tatiana C, M., Francisco, J., & Luciano A, F. (2005), "Treatment of phimosis with topical steroids and foreskin" International Braz J Urol 31 (4), pp.370-374.
24.              Vincent, M. V., & Mackinnon, E. (2005), "The response of clinical balanitis xerotica obliterans to the application of topical steroid-based creams"  Journal of Pediatric Surgery 40, pp.709-712.
25.              Yang, S., Tsai, Y., Wu, C., Liu, S., & Wang, C. (2005), "Highly potent and moderately potent topical steroids are effective in treating phimosis: a   prospective randomized study" J Urol 173, pp.1361-1363.
 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
You are here: Home Category Blog KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN HẸP BAO QUY ĐẦU Ở TRẺ EM

Hội phẫu thuật nhi Việt Nam

DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)

  DANH SÁCH BAN CHẤP HÀNH NHIỆM KỲ II HỘI PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM (2012 – 2017)                                                        ...
13 January 2015 Đọc thêm...

Tin tức, sự kiện mới

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

HỘI NGHỊ PHẪU THUẬT NHI VIỆT NAM LẦN THỨ 9 NĂM 2014

Ngày 12/12/2014 tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế VinMec đã diễn ra Hội nghị phẫu thuật Nhi Việt Nam lần thứ 9 với sự tham gia của các giáo sư, tiến sư đầu ngành...
30 December 2014 Đọc thêm...

Thông tin mới

Tin xem nhiều